Trường Đại học Y Dược Thái Bìnhhttp://tbump.edu.vn/uploads/logo_1.png
Thứ năm - 07/05/2026 07:40100
Cách đây 72 năm, ngày 7/5/1954, quân và dân Việt Nam đã lập nên kỳ tích lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - “pháo đài bất khả xâm phạm”, niềm kiêu hãnh của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đến ngày nay, tầm vóc lớn lao và ý nghĩa thời đại sâu sắc, giá trị lịch sử quý báu của sự kiện trọng đại này vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với toàn nhân loại.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến công vang dội của một dân tộc vốn là thuộc địa, đánh thắng quân đội hiện đại của một đế quốc phương Tây. Đây cũng là chiến thắng điển hình nhất trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống quân xâm lược nước ngoài, mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chính vì vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của tinh thần quật cường, bất khuất, trí thông minh, sáng tạo của nhân dân Việt Nam. Và trong chiến thắng lừng lẫy ấy, tỉnh Thái Bình xưa có đóng góp to lớn về sức người sức của, với hàng nghìn người con quê hương đã lên đường tham gia chiến đấu, có những người không thể trở về.
Những người Thái Bình xưa làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ
Từ tháng 2 đến tháng 5/1954, tỉnh Thái Bình (cũ) đã bổ sung cho bộ đội chủ lực gần 3.000 người và hàng nghìn dân công gánh gạo, tải thương vượt sông Hồng, sông Đáy đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh đã nhận được hàng vạn lá thư, hàng chục nghìn gói vật phẩm để gửi tới chiến sỹ Điện Biên Phủ. Chỉ riêng các khoản thuế quy ra thóc, từ năm 1951 đến tháng 6/1954, tỉnh Thái Bình đóng góp cho nhà nước 63.000 tấn. Có hàng nghìn chiến sỹ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến lên đường trực tiếp tham gia chiến dịch. Những ngày tháng chiến đấu trong mưa bom bão đạn đều có dấu ấn của người con quê hương Thái Bình, với tinh thần “Tất cả cho chiến trường, tất cả để chiến thắng”.
Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ khi mới 17 tuổi, cựu chiến binh Phạm Văn Cư, ở xã Chí Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ), nay là xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên, từng là lính bộ binh ở Đại đội 606, Tiểu đoàn 166, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Tháng 1 năm 1954, đơn vị ông tham gia nhiệm vụ kéo pháo bằng tay vào trận địa. Sau đó, nhận thông tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay đổi cách đánh từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”, các chiến sĩ lại kéo pháo ra. Kéo vào đã vất vả, kéo ra còn nguy hiểm, gian nan gấp bội. Địch phát hiện đường hành quân của quân ta, thả bom bắn phá ác liệt. Một bên là núi cao, một bên là vực sâu, chỉ một phút lơi tay là cả khối thép đồ sộ sẽ kéo theo hàng chục người xuống vực. Những nhiệm vụ nặng nề như vậy rất nhiều, đều trở thành kỷ niệm sâu sắc đối với ông. Cựu chiến binh Phạm Văn Cư chia sẻ: Trong quá trình di chuyển, bộ đội ta phải vượt qua nhiều địa hình phức tạp, với đồi núi cao, dốc lớn, các con đường bí mật xuyên rừng, băng qua nhiều sông, suối. Những ngày chiến đấu gian khổ, đào hầm ngủ đất, nhưng ý chí và tinh thần của bộ đội rất cao, đánh cho địch mất hết đường tiếp tế dẫn đến thất bại. Nhờ được tuyên truyền giáo dục và tinh thần quyết tâm của anh em chiến sĩ nên dù kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra vô cùng vất vả nhưng “Quân lệnh như sơn”, mỗi người dù mệt mỏi vẫn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, tin tưởng tuyệt đối vào Đại tướng.
Các chiến sĩ pháo binh kéo những khẩu pháo nặng hàng chục tấn vào chiếm lĩnh trận địa, góp phần xứng đáng vào chiến thắng của chiến dịch.
Chúng tôi cũng có cơ hội trò chuyện với cựu thanh niên xung phong Vũ Xuân Hoà, ở xã Kiến Xương. Dù đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng với ông, thanh xuân hào hùng của một thời hoa lửa và kí ức về những ngày tháng gian khổ mà rất đỗi tự hào vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí. Theo lời tâm sự của ông, lúc đó thanh niên đã lên đường tham gia chiến dịch thì đều xác định khả năng sẽ phải hy sinh, và cũng vì thế mà họ lăn xả chiến đấu mà không màng đến tính mạng chính mình, với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Trong số những chiến sỹ người Thái Bình tình nguyện lên đường tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ khi ấy, có 2.538 người phải để lại một phần xương máu ở chiến trường, 268 người đã anh dũng hy sinh. Riêng trong tháng 4 năm 1954, tháng phối hợp cùng Điện Biên Phủ đánh Pháp, quân dân Thái Bình đánh gần 200 trận, diệt và làm bị thương gần 1.000 tên địch, phá hủy hàng chục xe cơ giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các đơn vị lập công trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
“Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, vào 7 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, bộ đội Việt Nam đã vượt lên mưa bom bão đạn, cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng trên nóc hầm Đờ Cát, tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của thực dân Pháp mà ngay cả trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ II cũng không có tập đoàn cứ điểm nào mạnh bằng.
Ngày 7/5/1954, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị quân ta tiêu diệt, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" đang phấp phới bay trên nóc hầm Đờ Cát.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp, trực tiếp dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng trở thành tiếng sấm rền vang làm rung chuyển thế giới, xé toạc đám mây đen của chủ nghĩa thực dân - đế quốc, mang đến nguồn cổ vũ to lớn cho các dân tộc bị áp bức đứng lên giành độc lập. Ba tiếng Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ vang lên khắp nơi, trở thành niềm tự hào và khát vọng tự do, là biểu tượng của lòng quả cảm vô song và là ngôi sao sáng của phong trào giải phóng dân tộc.
“Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Lời thơ trong tác phẩm “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của nhà thơ Tố Hữu như một đúc kết ngắn gọn mà đầy đủ. Cả dân tộc Việt Nam đã làm nên thiên sử vàng oanh liệt, đi vào lịch sử nhân loại bằng cuộc kháng chiến trường kỳ ba nghìn ngày không nghỉ.
Từ chiến thắng lịch sử đến xây dựng quê hương
10 năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều đợt di dân được tổ chức. Hàng nghìn con em tỉnh Thái Bình xưa đã rời quê, sát cánh cùng Nhân dân các dân tộc Điện Biên bảo vệ và xây dựng mảnh đất truyền thống anh hùng ngày càng giàu đẹp. Những làng Thái Bình ở Điện Biên ngày ấy, bây giờ đã trở thành những vùng kinh tế mới trù phú. Người dân Thái Bình không chỉ làm giàu cho chính mình, mà còn góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tỉnh Điện Biên ngày nay.
Không phải ngẫu nhiên mà thôn Hưng Biên ở xã Noong Luống, huyện Điện Biên (cũ), nay là xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên, lại có tên gọi như vậy. Hưng trong từ Hưng Hà, một huyện của tỉnh Thái Bình (cũ), là quê của Nhân dân nơi đây. Biên trong từ Điện Biên, nơi mà họ coi là quê hương thứ hai, gắn bó và dựng xây trong suốt nhiều thập kỷ. Nhân dân Thái Bình xưa đã cùng chung tay xây dựng một Điện Biên phát triển, cải tạo cánh đồng Mường Thanh sau bom đạn chiến tranh trở nên xanh tốt. Từ Thái Bình, họ mang theo kỹ thuật canh tác lúa của quê hương, kỹ thuật chăn nuôi, hay các nghề làm bánh đa, nghề trồng cây hoa, cây cảnh.
Ông Đoàn Văn Huy, một người con quê hương Thái Bình xưa, hiện đang ở tỉnh Điện Biên, cho biết: Những năm qua chúng tôi cũng đưa nhiều giống cây chủ lực từ quê hương Thái Bình lên đây, ví dụ như cây bưởi Diễn đã giúp nhiều hộ gia đình phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Bà con cũng đang có định hướng tiếp tục đưa cây quất, cây đào lên nhân rộng mô hình. Bản thân tôi cũng như rất đông người Thái Bình (cũ) ở đây luôn tâm niệm, mình có 2 quê hương, quê hương nơi mình sinh ra và quê hương nơi mình lập nghiệp, làm sao cùng bà con Nhân dân Điện Biên động viên nhau phát triển.
Sau hơn 7 thập kỷ Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, tỉnh Điện Biên đã và đang tiếp tục đi trên con đường đổi mới. Còn tại tỉnh Thái Bình xưa, Hưng Yên nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân cũng kế thừa, phát huy truyền thống của chiến thắng lịch sử, tập trung kiện toàn hệ thống chính trị; tăng cường thu hút đầu tư; khai thác hiệu quả các tiềm năng thế mạnh; phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.
Đối với Trường Đại học Y Dược Thái Bình, tiếp nối truyền thống quê hương, các thế hệ viên chức, người lao động, học viên, sinh viên luôn nỗ lực đoàn kết, sáng tạo, dạy tốt, học tập tốt và công tác tốt, tất cả vì sự phát triển cộng đồng, đổi mới để thích ứng với yêu cầu xã hội. Đặc biệt, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa được Nhà trường quan tâm thực hiện thường xuyên như: tổ chức gặp mặt, thăm hỏi người có công với cách mạng; tặng quà các gia đình chính sách; tổ chức các đoàn đi tham quan di tích lịch sử, các chiến khu xưa; giáo dục thế hệ trẻ về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người đã hy sinh máu xương vì Tổ quốc.
Ngày 7/5/1954 mãi mãi là một “cột mốc chói lọi bằng vàng” trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những giá trị truyền thống quý báu thông qua bản anh hùng ca bất diệt này đang giúp các thế hệ sau soi rọi chính mình, nhắc nhở họ về sứ mệnh viết tiếp những khát vọng non sông./.
Tác giả bài viết: Phòng Hành chính & Công tác chính trị
Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn https://www.tbump.edu.vn là vi phạm bản quyền