Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng: Khi đo lường đúng thúc đẩy hiệu quả thực chất

Thứ tư - 21/10/2026 15:12 25 0
Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, phiên bản 1.0 được ban hành kèm theo Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ngày 17/8/2026 của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, đặt ra khung đánh giá, điều kiện bảo đảm, kết quả chuyển đổi số và năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng: Khi đo lường đúng thúc đẩy hiệu quả thực chất
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở công nghệ số, dữ liệu số và quy trình số. Quá trình này cần được đánh giá bằng những thay đổi cụ thể: công việc được xử lý như thế nào, thời gian thực hiện có được rút ngắn, dữ liệu có hỗ trợ ra quyết định và cán bộ có làm chủ các công cụ được trang bị hay không. Bộ chỉ số ban hành kèm theo Quyết định số 23-QĐ/BCĐ tạo cơ sở để thu hẹp khoảng cách giữa triển khai công nghệ và kết quả hoạt động. Đáng chú ý, văn bản xác định mức độ sẵn sàng chuyển đổi số thông qua cả điều kiện bảo đảm và kết quả thực tế của cơ quan. Theo đó, đánh giá phải xem xét mối liên hệ giữa thể chế, hạ tầng, nhân lực, an toàn, bảo mật với những thay đổi trong quy trình và chất lượng công việc.

Giá trị của Bộ chỉ số nằm ở khả năng giúp cơ quan nhận diện đúng vấn đề cần giải quyết. Điểm thấp ở một nhóm tiêu chí phải được chuyển thành câu hỏi quản trị: “Thiếu điều kiện kỹ thuật, thiếu kỹ năng, quy trình chưa phù hợp hay dữ liệu chưa đủ tin cậy?” Trả lời được những câu hỏi này mới có thể lựa chọn giải pháp và phân bổ nguồn lực hiệu quả.

Cấu trúc đánh giá gắn kết tổ chức với năng lực của đội ngũ

Bộ chỉ số được thiết kế theo hai nhóm đánh giá: đánh giá tổ chức và đánh giá cá nhân. Đối với tổ chức, Bộ chỉ số gồm 9 chỉ số chính, 27 chỉ số thành phần. Trong đó, 400 điểm dành cho các điều kiện sẵn sàng chuyển đổi số, gồm: nhận thức số và trách nhiệm của người đứng đầu; thể chế số; hạ tầng số và nền tảng dùng chung; nhân lực số; an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu. 600 điểm còn lại đánh giá kết quả hoạt động chuyển đổi số, tập trung vào xử lý công việc toàn trình trên môi trường số; hiệu quả về thời gian, chi phí; dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới quy trình, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các sáng kiến, giải pháp về chuyển đổi số.

Nhóm xử lý công việc toàn trình trên môi trường số có tỷ trọng lớn nhất, tối đa 250 điểm. Trong đó, văn bản đi được ký số, phát hành điện tử toàn trình có 120 điểm. Đây là động lực để đưa các khâu xử lý nghiệp vụ vào hệ thống thống nhất. Tuy nhiên, toàn trình cần được hiểu đầy đủ theo định nghĩa: từ tiếp nhận hoặc khởi tạo đến cho ý kiến, ký, phát hành, lập hồ sơ và lưu trữ trên hệ thống; không thực hiện song song bản giấy ở bất kỳ khâu nào, trừ văn bản mật. Vì vậy, một văn bản được ký số ở bước cuối chưa đủ chứng minh toàn bộ quy trình đã được số hóa. Hoạt động đánh giá cần kiểm tra dấu vết xử lý của các khâu liên quan, thay vì chỉ thống kê số lượng văn bản có chữ ký số.
 
 
Đối với cá nhân, Bộ chỉ số đánh giá hai nhóm năng lực là kiến thức số cơ bản và kỹ năng số cơ bản. Nội dung kỹ năng bao gồm khai thác thông tin, dữ liệu số; giao tiếp, hợp tác trên môi trường số; sáng tạo nội dung số; bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư; giải quyết vấn đề nhờ công nghệ số và sử dụng, khai thác các ứng dụng dùng chung.

Kết quả tổng hợp của cơ quan được xác định bằng trung bình cộng giữa tỷ lệ điểm đánh giá tổ chức và tỷ lệ điểm năng lực số của đội ngũ. Thiết kế này đề cao vai trò của con người trong chuyển đổi số.

Tỷ lệ điểm được chuẩn hoá trên tổng điểm tối đa của các chỉ số thực tế áp dụng. Kết quả đánh giá được phân thành 4 mức độ: Xuất sắc (từ 90% trở lên), Tốt (từ 70% đến dưới 90%), Trung bình (từ 50% đến dưới 70%), Kém (dưới 50%). Trong đó, điều kiện để được xếp loại Xuất sắc là có ít nhất 70% cán bộ thuộc đối tượng đánh giá được xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số, góp phần hạn chế tình trạng kết quả tập trung ở một nhóm nhỏ người sử dụng thành thạo.

Chú trọng ứng dụng AI, dữ liệu và an toàn số

Bộ chỉ số đặt yêu cầu tương đối toàn diện đối với năng lực số, không chỉ dừng ở khả năng sử dụng các phần mềm, hệ thống số mà hướng tới khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và đổi mới phương thức làm việc.

Trong tổ chức, việc ứng dụng AI, công cụ tự động hóa trong các quy trình nghiệp vụ được đưa thành một chỉ số đánh giá. Việc ứng dụng phải có mục tiêu rõ ràng, tuân thủ yêu cầu bảo mật, có kiểm soát của con người và có kết quả thực tế có thể đánh giá.
 
 
Ở góc độ cá nhân, cán bộ được yêu cầu có kiến thức cơ bản về AI, biết sử dụng AI hỗ trợ công việc, đồng thời nhận thức được các vấn đề đạo đức, pháp lý và yêu cầu sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm. Bộ chỉ số cũng yêu cầu cán bộ biết kiểm chứng thông tin do AI tạo ra và không sử dụng kết quả AI làm căn cứ duy nhất để xác định tính xác thực của thông tin.

Các cơ quan Đảng sẽ thực hiện đánh giá định kỳ 6 tháng nhằm theo dõi tiến độ, cảnh báo hạn chế, xác định điểm nghẽn và đôn đốc khắc phục; kết quả trong giai đoạn này phục vụ công tác quản trị và chưa sử dụng để xếp hạng chính thức. Đối với các kỳ đánh giá chính thức, việc đánh giá được thực hiện hằng năm trên cơ sở dữ liệu của cả năm, kết hợp giữa tự đánh giá, dữ liệu hệ thống, thẩm định, kiểm tra sau công bố và giải trình qua phần mềm.

Trường Đại học Y Dược Thái Bình: Chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu

Đối với Trường Đại học Y Dược Thái Bình, việc vận dụng Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, phiên bản 1.0, có thể tạo cơ sở để Nhà trường xác định những khâu còn xử lý thủ công, dữ liệu chưa được kết nối, quy trình còn chồng chéo và nhu cầu thực tế trong bồi dưỡng năng lực số, từ đó xây dựng lộ trình cải tiến với mục tiêu, chỉ số và thời hạn cụ thể.
 
AI và chuyển đổi số được ứng dụng trong kỳ thi kết thúc Học phần Lâm sàng Điều dưỡng Ngoại khoa
của sinh viên Điều dưỡng năm thứ 3.
Một yêu cầu xuyên suốt trong quá trình này là bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu. Gắn với thực hiện Chỉ thị số 57-CT/TW về tăng cường bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và an ninh dữ liệu trong hệ thống chính trị, Nhà trường coi an toàn số là điều kiện bắt buộc ngay từ khâu vận hành hệ thống, thay vì chỉ xử lý khi xảy ra sự cố. Đặc thù của Trường đòi hỏi việc bảo vệ dữ liệu phải được thực hiện đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ thông tin cá nhân của người học, hồ sơ viên chức, người lao động, dữ liệu nghiên cứu khoa học đến hồ sơ bệnh án và thông tin sức khỏe của người bệnh. Các giải pháp được triển khai đảm bảo chú trọng phân quyền truy cập theo nhiệm vụ, sao lưu dữ liệu thường xuyên, tăng cường giám sát hệ thống, kiểm tra lỗ hổng bảo mật và có phương án ứng phó, khôi phục khi xảy ra sự cố. Cùng với đầu tư công nghệ, Trường cũng chú trọng nâng cao nhận thức của viên chức, người lao động về bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng chống lừa đảo trực tuyến, sử dụng các công cụ AI an toàn; không đưa dữ liệu lên các nền tảng chưa được phép sử dụng.
img 3017
Nhiều lớp tập huấn về sử dụng trí tuệ nhân tạo AI trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học đã được triển khai hiệu quả.
Khi được triển khai có lộ trình và gắn với trách nhiệm của từng đơn vị, Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số có thể giúp Nhà trường chuyển từ cách tiếp cận dựa trên số lượng phần mềm, thiết bị được đầu tư, con người được tập huấn, sang đánh giá hiệu quả thực tế mà công nghệ mang lại. Kết quả không chỉ thể hiện ở việc giảm thời gian xử lý công việc, nâng cao chất lượng quản trị và khai thác dữ liệu, mà còn ở khả năng kiểm soát rủi ro, duy trì hoạt động liên tục và củng cố niềm tin của người học, viên chức, người lao động và người bệnh. Đây là cơ sở để Trường Đại học Y Dược Thái Bình lựa chọn đúng trọng tâm đầu tư, sử dụng hiệu quả nguồn lực và phát triển môi trường số an toàn, tin cậy, phục vụ tốt hơn những nhiệm vụ cốt lõi: đào tạo, nghiên cứu khoa học và chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân./.

Tác giả bài viết: Phòng Hành chính & Công tác chính trị

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn https://www.tbump.edu.vn là vi phạm bản quyền

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây